|
|
|
Lê Lợi - Kháng Chiến Đánh Đuổi Quân Minh
(Trích Việt sử đại cương tập 1, tt. 321-344.)
Truyền thống bất khuất của dân tộc Việt không để cho nhà Minh (Trung Hoa) dễ dàng áp đặt công cuộc đô hộ và thi hành chính sách khai thác thuộc địa tại Đại Việt. Năm 1414, Trương Phụ và Mộc Thạnh đánh dẹp được Trùng Quang Đế thì hai năm sau (1416), tại vùng Lam Sơn ở Thanh Hoa,(1) Lê Lợi chuẩn bị đứng lên khởi nghĩa.
Tương truyền rằng tổ ba đời của Lê Lợi là Lê Hối đi ngang qua núi Lam Sơn (Thanh Hoa), thấy đàn chim bay lượn quanh chân núi, đẹp như hình ảnh quần hùng tụ họp. Lê Hối nghĩ rằng đây là chỗ đất tốt, quyết định dời nhà đến lập nghiệp. Lê Hối tổ chức phát rừng, làm rẫy, chỉ ba năm sau, đã xây dựng được sản nghiệp lớn. Có sách cho rằng ông Lê Hối thuộc sắc tộc Mường [chủng người Mã-lai Đa đảo] ở vùng núi non Thanh Hoa.(2)
Lê Hối sinh ra Lê Đinh. Ông nầy phát triển nghiệp nhà lên đến hơn một ngàn người giúp việc. Lê Đinh có hai người con trai là Lê Tòng và Lê Khoáng. Lê Khoáng kết hôn với Trịnh Thị Thương, người làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (Thanh Hoa), và sinh ra Lê Lợi vào ngày 6 tháng 8 năm ất sửu (1385).(3)
Năm 1416 (bính thân), tại Lũng Nhai,(4) gần Lam Sơn, Lê Lợi và 18 người tâm phúc, trong đó có Nguyễn Trãi,(5) cùng nhau thề nguyền sát cánh chiến đấu chống quân xâm lược nhà Minh. Từ đó, Lê Lợi bắt đầu tập họp nghĩa binh, và công khai khởi nghĩa năm 1418 (mậu tuất). Cuộc kháng Minh gian khổ kéo dài trong 10 năm, kết thúc thắng lợi năm 1428 (mậu thân) bằng giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên.
Trong khi Lê Lợi nổi lên ở Lam Sơn, tại những vùng khác, cũng có nhiều người đứng ra chống quân Minh. Năm 1419 (kỷ hợi), Phan Liêu ở Nghệ An, Trịnh Công Chứng, Lê Hanh ở Hạ Hồng (Hải Dương), Phạm Thiện ở Tân Minh (Hải Dương), Nguyễn Đặc ở Khoái Châu (Hưng Yên), Nguyễn Đa Cấu, Trần Nhuế ở Hoàng Giang (Nam Định). Năm 1420 (canh tý), Lộ Văn Luật ở Thạch Thất (Sơn Tây), Trần Thái Xung ở Đạo Hội, Phạm Ngọc ở Đồ Sơn (Hải Dương), Lê Ngã ở Thuỷ Đường (Hải Dương).(6) Những cuộc khởi nghĩa nầy đều bị quân Minh dẹp yên, chỉ có cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi là bền bĩ hơn cả và cuối cùng đã thành công vẻ vang. Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn du kích, và giai đoạn tổng phản công.
I.- GIAI ĐOẠN DU KÍCH
Trong chiến tranh chống ngoại xâm, khi lực lượng còn yếu kém so với địch thủ, các nhà khởi nghĩa thường sử dụng chiến thuật du kích (guerrilla) để tấn công, tiêu diệt và làm hao mòn quân lực kẻ địch. Du kích (du = đi nơi nầy nơi khác, kích = đánh) là lối đánh quy mô nhỏ, không sắp thành trận tuyến, di động nhanh chóng, bất ngờ đánh nơi nầy, phá nơi khác, không theo một quy ước nhất định nào, dựa vào quần chúng để được che chở, tiếp liệu. Du kích bao gồm cả phá hoại và khủng bố. Địa bàn rừng núi nước Việt rất thích hợp cho việc ứng dụng chiến thuật du kích chống ngoại xâm.
1. ĐÁNH DU KÍCH Ở THANH HOA
Năm 1416, tại Lũng Nhai, ở Lam Sơn (Thanh Hoa), những anh hùng sau đây cùng nhau hội thề khởi nghĩa: Lê Lợi, Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Nanh, Lê Kiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Phạm Lôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến.(7)
Từ đó, Lê Lợi chiêu binh mãi mã, càng ngày lực lượng càng đông. Điều nầy khiến quân Minh chú ý. Quân Minh cử người đến dụ dỗ, trao quan chức, nhưng Lê Lợi không nhận. Ông thường nói: "Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại hèn nhát để cho người sai khiến?"(8)
Không thuyết phục được Lê Lợi, tháng giêng năm mậu tuất (1418), tướng Minh là Mã Kỳ đem quân đến uy hiếp Lam Sơn. Lê Lợi rút lên miền rừng núi thượng nguồn sông Chu, vùng Lạc Thuỷ, phía trên Lam Sơn, bày quân mai phục. Chính tại đây, Lê Lợi thu được thắng lợi đầu tiên khi quân Minh lọt ổ phục kích của nghĩa quân. Biến cố nầy đánh dấu công khai chính thức cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi. Tuy nhiên, lực lượng còn yếu, lại bị nội phản,(9) vợ và con gái của Lê Lợi bị bắt.(10) Lê Lợi phải cùng với Đinh Lễ, Đỗ Bí, Nguyễn Xí (những người nầy sau đổi qua họ Lê) trốn về núi Chí Linh ẩn náu.(11) [Núi Chí Linh còn gọi là núi Pù Rinh,nay thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.]
Tháng 4 năm kỷ hợi (1419), Lê Lợi bất ngờ tung quân đánh hạ đồn Nga Lạc, gần Lam Sơn, bắt giết viên chỉ huy Nguyễn Sao, nhưng bị quân Minh truy đuổi, ông phải trốn lên núi Chí Linh lần thứ nhì. Lúc bị vây khổn, Lê Lợi không đường thoát thân. Cận tướng là Lê Lai đã hy sinh giả dạng Lê Lợi, cầm quân ra trận. Quân Minh tưởng thật, bao vây bắt giết Lê Lai.(12) Nhân cơ hội nầy, Lê Lợi trốn thoát theo hướng khác. Sau đó, Lê Lợi phải liên tục thay đổi vị trí đóng quân để tránh địch. Ông chuyển qua các vùng Lư Sơn, Mường Thôi, Vu Sơn (đều là những vùng rừng núi gần Lam Sơn ở Thanh Hóa ngày nay).
Tháng 10 năm canh tý (1420), Lê Lợi tấn công Bến Bổng, mạn thượng lưu sông Chu, nghỉ quân ở Mường Nanh (nay là xã Thịnh Nang, huyện Lang Chánh), và phục quân tấn công người Minh ở Thi Lang. Tháng sau, ông cử Lê Sát, Lê Hào tấn công đồn Quan Du, thu nhiều chiến cụ. Từ đó, nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu nổi tiếng, dân chúng các huyện lân cận đứng lên hưởng ứng.
Tháng 11 năm tân sửu (1421), tướng Minh là Trần Trí đem quân tấn công vùng Ba Lẫm, nơi Lê Lợi trú quân. Lê Lợi tổ chức đánh úp khiến Trần Trí phải lui quân. Lúc đó, quân Ai Lao (Lào), bí mật liên minh với quân Trung Hoa, phao tin đến giúp Lê Lợi. Lê Lợi không nghi ngờ, bị quân Ai Lao bất thần tấn công. Tuy đẩy lui được quân Ai Lao, nhưng trong trận nầy Lê Lợi mất một viên tướng thân cận là Lê Thạch, gọi ông bằng chú ruột.
Vào đầu năm 1422 (nhâm dần), viên tổng binh nhà Minh là Lý Bân chết vì bịnh, nhà Minh cử Trần Trí lên thay, cai quản quân đội. Vào tháng 12 năm nhâm dần (qua đầu 1423), quân Ai Lao tiếp tục cùng quân Minh tấn công Lê Lợi. Ông phải rút về đóng quân ở Chí Linh lần thứ ba.
Bị bao vây tại Chí Linh hai tháng, nghĩa quân Lam Sơn hết lương thực, chỉ ăn rau củ, măng tre, và phải giết cả voi và ngựa để sống qua ngày. Cuối cùng, Lê Lợi phải tạm đình chiến, đề nghị giảng hòa với quân Minh.
Cuộc giảng hòa chẳng được bao lâu, vì tướng Minh là Trần Trí đã bắt và cầm giữ sứ giả của Lê Lợi là Lê Trăn. Tháng 9 năm giáp thìn (1424), Lê Lợi mở cuộc tấn công đồn Đa Căng (Thanh Hoa). Lương Nhữ Hốt, một người Việt đầu hàng và làm quan cho nhà Minh, bỏ chạy. Viện quân Minh do Nguyễn Suất Anh cầm đầu cũng bị đánh bại. Anh phải rút về thành Tây Đô (Thanh Hoa).
Trong năm nầy (giáp thìn, 1424), vào tháng 7, Minh Thành Tổ chết trong khi đang hành quân phía bắc. Ông là một nhà cai trị đầy tham vọng, chủ trương bành trướng. Việc ông chết có thể sẽ ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của Trung Hoa. Thái tử Cao Xí lên ngôi tức Minh Nhân Tông (trị vì 1424-1425). Minh Nhân Tông cho gọi Hoàng Phúc về nước, và cử Trần Hiệp, hàm Binh bộ thượng thư, sang thay, nắm hai ty Bố chánh vá Án sát.
2. CHIẾM NGHỆ AN, TÂN BÌNH, THUẬN HÓA
Một thay đổi chiến lược quan trọng vào cuối năm 1424 báo hiệu bước đường thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn là sau trận Đa Căng, lực lượng khởi nghĩa mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ hành quân ở Thanh Hoa, mà còn gởi quân tiến xuống phía nam, đánh Nghệ An.
Nghĩa quân Lam Sơn tấn công Quỳ Châu (Nghệ An), giết được Đô ty nhà Minh là Trần Trung, rồi uy hiếp châu Trà Lân (Nghệ An) do tri châu thổ quan Cầm Bành chỉ huy. Các tướng Minh cố gắng giải vây cho Cầm Bành, nhưng không phá vỡ được vòng vây, đành trả Lê Trăn cho nghĩa quân để cầu hòa. Cầm Bành biết rằng viện quân nhà Minh không đến cứu được, liền xin hàng và mở cửa thành Trà Lân giao cho nghĩa quân Lam Sơn.
Sau trận Trà Lân, hai lực lượng Việt - Hoa lại gặp nhau ở Khả Lưu, phía bắc sông Lam (nay thuộc xã Vĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Tại đây, khi lập xong đồn trại, Lê Lợi giả lui quân. Tướng Minh tưởng thật không đề phòng, bị nghĩa quân phục kích đánh tan. Nghĩa quân bắt được viên Đô ty Châu Kiệt, giết tại trận viên Đô ty Hoàng Thành. Các tướng Trần Trí, Sơn Thọ phải thu tàn binh chạy vào thành Nghệ An cố thủ.
Thanh thế lực lượng nghĩa quân tại Nghệ An nổi lên rất mạnh. Đầu năm 1425 (ất tỵ) thổ quan tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quý đem 8.000 hương binh xin gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Quân Minh phải điều động thủy quân chở lương thực từ Đông Quan (Thăng Long) vào tăng viện. Nghĩa quân phục kích thắng hai trận liên tiếp vào các tháng 4 và 5, cướp lấy thuyền lương. Lê Lợi cử các tướng Đinh Lễ, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lý Triện dẫn quân tiến ra đánh Tây Đô (Thanh Hoa). Quân Minh phải rút vào thành cố thủ.
Tháng 5 năm ất tỵ, ở Trung Hoa, Minh Nhân Tông chết, thái tử Chiêm Cơ lên kế vị là Minh Tuyên Tông (trị vì 1425-1436).
Tháng 7 năm ất tỵ (1425), Lê Lợi cử Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ đem quân xuống đánh Tân Bình (thuộc Quảng Bình ngày nay) và Thuận Hóa.(13) Quân của Trần Nguyên Hãn bị quân Minh chận ở sông Bố Chánh (sông Gianh). Hãn xin Lê Lợi viện binh. Lê Lợi gởi thêm các tướng Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem chiến thuyền vượt biển vào giúp. Nghĩa quân thắng thế, cùng nhau bao vây quân Minh vào các thành Tân Bình và Thuận Hóa.
Đến đây, lực lượng đã cứng cáp, nghĩa quân suy tôn Lê Lợi là "Đại thiên hành hóa" (thay trời để tiến hành việc giáo hóa).
II.- GIAI ĐOẠN VẬN ĐỘNG CHIẾN
Khi thế lực đã mạnh, Lê Lợi chuyển từ du kích chiến qua vận động chiến, sử dụng những đơn vị lớn mở những cuộc hành quân quy mô, tấn công các cứ điểm phòng thủ địch ở khắp nơi.
1. NGHĨA QUÂN LAM SƠN BẮC TIẾN
Lê Lợi cho rằng quân Minh tăng viện để giữ Thanh Hoa, Nghệ An, nên chắc chắn quân Minh yếu thế ở vùng Đông Quan (Thăng Long). Tháng 8 năm bính ngọ (1426), nghĩa quân quyết định mở đường bắc tiến, tổ chức những cuộc hành quân rộng lớn, chận đánh các đường tiếp viện của quân Minh, và phân công như sau:
a) Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Lê Như Huân, Lê Bí hành quân kiểm soát vùng từ Thiên Quan (Ninh Bình ngày nay) lên hướng tây bắc, đến vùng Quy Hóa (Lào Cai ngày nay) và Tuyên Quang, để chận viện binh của nhà Minh từ Vân Nam đi xuống.
b) Đỗ Bí (Lê Bí), Lê Khuyển cầm quân đánh Bắc Giang, Lạng Giang (Lạng Giang) để chận viện binh nhà Minh từ Lưỡng Quảng đến. Đinh Lễ và Nguyễn Xí (Lê Xí) đem binh theo sau tiếp cứu.
c) Lê Lợi chỉ huy đại quân, tiếp tục bao vây các thành Nghệ An, Thanh Hoa, giữ vùng nông thôn và rừng núi hai tỉnh nầy làm hậu cứ điều động và tiếp viện các cuộc hành quân.
Quân Minh chận đánh Lý Triện ở Ninh Kiều (Hà Tây ngày nay), nhưng bị nghĩa quân đẩy lui. Tư lệnh quân Minh là Trần Trí, một mặt tăng cường phòng thủ Đông Quan (Thăng Long), một mặt gọi các tướng Lý An, Phương Chính ra Đông Quan tăng viện, giao Nghệ An lại cho Thái Phúc.
Được tin nầy, Lê Lợi để Lê Ngân và một số tướng lãnh ở laị tiếp tục bao vây thành Nghệ An, còn tự mình cầm quân đuổi theo Phương Chính, và chuyển ra đóng quân tại Thanh Hoa.
2. QUÂN MINH TĂNG VIỆN
a) Vương An Lão: Cuối tháng 8 bính ngọ (1426), nhà Minh cử Đô ty Vương An Lão ở Vân Nam cầm quân tiến vào Đại Việt. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, chận đánh ở Xa Lộc, lộ Tam Giang (nay là vùng Vĩnh Yên). Cánh quân Minh nầy bị chận đứng, phải rút vào thành Tam Giang. Còn Lý Triện đụng quân Minh ở Nhân Mục, gần Đông Quan, bắt được tướng Minh là Vi Lượng.
b) Vương Thông: Qua tháng 10, nhà Minh cử Tổng binh Thành Sơn Hầu Vương Thông cùng Tham tướng Mã Anh đem 5 vạn quân tiếp viện. Vương Thông hội quân ở Đông Quan, lập doanh trại liền nhau: Vương Thông đóng ở Cổ Sở (huyện Hoài Đức, Hà Tây ngày nay), Phương Chính đóng ở Sa Đôi (Từ Liêm, Hà Nội ), Sơn Thọ, Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai (huyện Thanh Oai, Hà Tây).
c) Trận Tốt Động: Lý Triện và Lê Bí phục kích đánh Sơn Thọ và Mã Kỳ ở đồng Cổ Lãm (Thanh Oai). Lý Triện tiếp tục tiến đánh Vương Thông ở Cổ Sở. Vương Thông mật lệnh cho quân sĩ phục binh đằng sau Lý Triện, nghe pháo lệnh thì đổ ra tấn công. Được tin nầy, Lý Triện và Đinh Lễ tương kế, nhử cho Vương Thông tiến sâu vào vùng phục kích, rồi đổ quân chận đánh ở đồng lầy Tốt Động, (còn gọi là Tụy Động, nay ở huyện Mỹ Lương, Hà Đông). Quân Minh thua to. Trần Hiệp, hàm Binh bộ thượng thư, đứng đầu hai ty Bố chánh và Án sát tại nước ta, bị tử trận. Nghĩa quân thu được nhiều ngựa, quân trang, khí giới. Vương Thông và Mã Kỳ thoát thân, chạy về Đông Quan (Thăng Long) cố thủ.
d) Lê Lợi bao vây Đông Quan: Được tin đại thắng, Lê Lợi rời Thanh Hoa, tiến quân ra bao vây quân Minh tại Đông Quan. Từ đây, quân Minh chỉ còn cố thủ trong các thành trì, trong khi toàn bộ miền nông thôn rơi vào tay nghĩa quân. Lê Lợi chia lại khu vực hành chánh vùng sông Hồng thành 4 đạo: Tây, Đông, Bắc và Nam đạo,(14) đặt lại các quan văn võ vừa lo việc cai trị, vừa lo việc tuần phòng, kiểm tra các đường giao thông và các cửa biển.
III.- NGƯỜI MINH TĂNG VIỆN THẤT BẠI
Sau trận Tốt Động (Tụy Động), Vương Thông cảm thấy thất thế, bắt đầu muốn nghĩ đến chuyện lui quân. Nguyên khi đưa quân qua xâm lăng Đại Việt, nhà Minh dùng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" (tôn phù họ Trần, diệt họ Hồ). Trong khi hai bên chống nhau, Nguyễn Trãi giữ việc từ mệnh, theo lệnh Lê Lợi, viết những thư từ trao đổi qua lại với lãnh đạo của quân Minh.(15) Vương Thông gợi ý với Lê Lợi nên dùng danh nghĩa họ Trần để hai bên thương nghị bãi binh.(16)
Về phía nghĩa quân, Lê Lợi cũng muốn sớm chấm dứt chiến tranh, nên sẵn sàng tìm kiếm một giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên. Tháng 11 năm bính ngọ (1426), Lê Lợi tìm được Hồ Ông, thổ quan châu Ngọc Ma (đến đời nhà Nguyễn đổi thành phủ Trấn Định, Nghệ An). Hồ Ông được đổi tên là Trần Cao, xưng là cháu của Trần Nghệ Tông (trị vì 1370-1372). Lê Lợi lập Trần Cao lên làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Khánh, và cử Bùi Quốc Hưng dạy dỗ, nhưng thực ra để theo dõi. Trần Cao đóng dinh ở núi Không Lộ (huyện Thạch Thất, Hà Tây), sau dời qua Võ Ninh (Hà Bắc).(17)
1. VƯƠNG THÔNG XIN HÒA LẦN THỨ NHẤT
Trong khi đó, Vương Thông, Sơn Thọ chờ đợi mãi không thấy viện binh, đành đưa thư xin hòa vào tháng 12 năm bính ngọ (qua năm 1427)ĩ, mong được rút quân về nước an toàn. Lê Lợi chấp nhận đề nghị nầy, cho phép quân Minh đi lại mua bán và tập họp tại thành Đông Quan để về nước.
Lúc đó, các viên chức Việt hợp tác với người Minh như Trần Phong, Lương Nhữ Hốt, Trần An Vinh, sợ bị trả thù, liền đưa trường hợp tướng Mông Cổ là Ô Mã Nhi bị giết dưới đời nhà Trần ra làm gương,(18) để khuyên Vương Thông đừng thương thuyết hòa bình. Vương Thông lo ngại, mật sai người về Trung Hoa cầu cứu.
Lê Lợi bắt được người mang thư đưa tin, liền cho bao vây Đông Quan trở lại và chia các tướng đem quân đánh các thành của quân Minh: Quốc Hưng đánh Điêu Diêu (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) và Thị Cầu (thuộc Bắc Ninh), Trịnh Khả và Lê Khuyển đánh Tam Giang (nay thuộc Lâm Thao), Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lý Triện đánh Xương Giang (Bắc Giang), Trần Lựu, Lê Bôi đánh Khâu Ôn (Lạng Sơn). Các thành nầy lần lượt rơi vào tay nghĩa quân.
Tại miền nam, quân Minh trấn đóng trong các thành Nghệ An và Diễn Châu (ở Nghệ An ngày nay) xin ra đầu hàng vào đầu năm đinh mùi (1427). Để điều động công việc cai trị và nhất là công việc ngoại giao với quân Minh, Lê Lợi phong cho Nguyễn Trãi làm Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư, kiêm hành khu mật viện sự. Lê Lợi cho dựng bộ chỉ huy hành quân trên sông Lô (một tên gọi khác vào thời nhà Lê trở về trước của khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long),(19) gọi là dinh Bồ Đề (vì trong dinh có hai cây bồ đề), cao ba tầng. Lê Lợi làm việc trên tầng cao nhất, theo dõi quan sát chuyển động của đối phương chung quanh Đông Quan, đặt Nguyễn Trãi ngồi ở tầng thứ nhì, nhận lệnh soạn thảo thư từ qua lại với quân Minh.
2. TRẬN CHI LĂNG
Chính trong lúc đang thắng thế, nghĩa quân Lam Sơn bị mất hai danh tướng là Lý Triện và Đinh Lễ. Vào tháng 2 năm đinh mùi (1427), tướng Minh là Phương Chính bất ngờ xuất quân đánh Cảo Động (nằm về phía tây Hồ Tây, Đông Quan). Lý Triện bị tử trận, Đỗ Bí (tức Lê Bí) bị bắt.(20) Tháng 6 cùng năm, Vương Thông tiến ra khỏi thành Đông Quan tấn công cánh nghĩa quân ở Tây Phù Liệt (gần Đông Quan). Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí (tức Lê Xí) đẩy lui Vương Thông đến My Động. Trong tận nầy, cả hai vị tướng Lam Sơn bị sa lầy và bị bắt. Đinh Lễ bị quân Minh giết chết, còn Nguyễn Xí trốn thoát về dinh Bồ Đề.
Hai trận thắng nầy làm cho quân Minh hy vọng trở lại. Nhà Minh cử Trấn Viễn Hầu Cố Hưng Tổ đem 5 vạn quân từ Quảng Tây sang cứu viện quân Minh vào tháng 6 năm đinh mùi (1427). Cố Hưng Tổ đi vào cửa ải Pha Lũy (ải Nam Quan), bị hai tướng Trần Lựu và Lê Bôi đánh tan phải chạy về.
Tháng 9 cùng năm, nhà Minh gởi thêm viện quân sang Đại Việt, đi bằng hai ngả: An Viễn Hầu Liễu Thăng đem 10 vạn tinh binh vượt ải Pha Luỹ đi vào đường Lạng Sơn, và Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh dẫn 5 vạn quân từ Vân Nam (Trung Hoa) đi vào ải Lê Hoa (vùng biên giới giữa Hà Tuyên và Vân Nam).
Khi Liễu Thăng tiến quân qua ải Pha Luỹ, tướng Trần Lựu liệu thế không chống cự nổi, phải rút lui về ải Chi Lăng. Tại đây, tướng Lê Sát cử tướng Trần Lựu cầm quân ra trận, rồi giả thua bỏ chạy. Liễu Thăng rượt theo, lọt vào ổ phục binh, bị nghĩa quân giết chết ở núi Mã Yên (tức núi Yên Ngựa) ngày 20 tháng 9 năm đinh mùi (1427).
Cũng tại Mã Yên, năm ngày sau (25-9), Lê Sát và Lưu Nhân Chú thắng thêm trận nữa, giết chết Bảo Định Bá Lương Minh. Nghĩa quân tiếp tục truy đuổi viện binh của quân Minh. Ngày 28-9, một tướng Minh khác là Lý Khánh tử trận. Đoàn viện quân của nhà Minh còn lại do hai tướng Thôi Tụ và Hoàng Phúc chỉ huy. Hai tướng nầy cũng bị nghĩa quân Lam Sơn bắt ngày 15-10 năm đinh mùi (1427) tại Lạng Sơn.
Tại mặt trận Lê Hoa (Tuyên Quang) phía tây bắc, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả chận bước tiến của Mộc Thạnh. Sau khi Liễu Thăng bị giết, Lê Lợi cho gởi bốn bộ thuộc của Liễu Thăng đem sắc thư và binh phù của viên tướng nầy đưa đến cho Mộc Thạnh. Thấy vậy, Mộc Thạnh biết Liễu Thăng đã thất trận, liền tự động rút quân về.
3. VƯƠNG THÔNG XIN HÒA LẦN THỨ NHÌ
Lê Lợi cử thông sự Đặng Hiếu Lộc giải Thôi Tụ và Hoàng Phúc cùng tù binh bắt được, đem theo ấn bạc của Liễu Thăng cùng chiến khí, cờ trống, sổ quân giao lại cho Vương Thông trong thành Đông Quan. Vương Thông được tin viện quân đã thất bại, không còn cách nào khác, đành phải xin hòa lần thứ nhì, dù chưa được lệnh của triều đình nhà Minh.
Lúc đó, nhiều tướng lãnh trong nghĩa quân Lam Sơn không chấp thuận đề nghị của Vương Thông, vì sợ người Minh phản trắc như lần trước, nhưng Nguyễn Trãi nhận định rằng quân Minh không còn cách chọn lựa nào khác là phải xin hòa để rút quân, và nghĩa quân nên chấp nhận đề nghị nầy để sớm kết liễu chiến tranh. Lê Lợi thuận theo ý kiến của Nguyễn Trãi, đồng ý nghị hòa.(21)
IV.- HÒA BÌNH TRONG DANH DỰ
Ngày 22 tháng 10 năm đinh mùi (1427), Lê Lợi dẫn đầu các tướng lãnh nghĩa quân Lam Sơn cùng với Vương Thông và các tướng lãnh trong quân đội nhà Minh tại Đại Việt, gặp nhau ở phía Nam thành Đông Quan để hội thề. Phía nghĩa quân Lam Sơn đồng ý để cho Vương Thông và toàn bộ quân Minh rút lui về nước an toàn, ngược lại Vương Thông và các tướng Minh hẹn đem quân về nước từ ngày 12 tháng 12 năm đinh mùi, và sẽ trình lên triều đình nhà Minh xin trả lại đất đai cho nước ta.
Vương Thông cho Sơn Thọ và Mã Kỳ ra dinh Bồ Đề của Lê Lợi làm con tin. Lê Lợi cử con là tư đồ Tư Tề (22) và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan (Thăng Long) làm con tin với quân Minh.
Khi đã nghị hòa với Vương Thông, Lê Lợi cử Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang, Lê Đức Huy đem bài biểu cầu phong đứng tên Trần Cao, và lễ vật cùng một số văn quan, võ chức người Minh do Vương Thông đề cử, cùng sang kinh đô Trung Hoa. Phái đoàn còn đem theo chiếc song hổ phù của Liễu Thăng, hai quả ấn bạc và một số quan quân, người ngựa nhà Minh bị bắt trước đây, lập danh sách trình cho nhà Minh.
Lúc bấy giờ tại triều đình nhà Minh diễn ra cuộc tranh cãi giữa phe chủ chiến do Trương Phụ đứng đầu và phe chủ hòa do đại học sĩ Dương Sĩ Kỳ chủ trương. Vua Minh Tuyên Tông nghiêng về phía chủ hòa,(23) muốn chấm dứt chiến tranh để giải quyết những khó khăn nội bộ trong nước Trung Hoa. Lúc đó, Tuyên Tông phải lo đối phó với hoàng thân Cao Hú làm phản, và đánh dẹp những cuộc xâm lấn biên cương ở phía bắc.(24)
Về phía nam, không kể việc cướp bóc và khai thác tài nguyên Đại Việt, nhà Minh xem như đã đạt được mục đích ban đầu của họ về danh nghĩa chính trị là diệt xong nhà Hồ, trả ngôi báu lại cho nhà Trần. Do đó, tháng 11 năm đinh mùi, vua Minh ban chiếu sắc phong cho Trần Cao làm An Nam Quốc Vương, định lệ triều cống theo như đời Minh Thái Tổ, và ra lệnh cho quân Minh về nước.
Tuy sắc chỉ của vua Minh chưa tới, ngày 12-12 năm đinh mùi, đúng kỳ hẹn theo hội thề Đông Quan, toán tiền quân của Vương Thông qua sông Lô (khúc sông Hồng ở Thăng Long) về nước trước. Ngày 17-12, Vương Thông dẫn đại quân về theo. Lê Lợi đã cấp thuyền bè, lương thực đầy đủ, trả lại toàn thể tù hàng binh cho các tướng lãnh nhà Minh, và tiễn đưa quân Minh rất hữu nghị.
Tổng binh Vương Thông về đến Long Châu (Trung Hoa) vào cuối năm đinh mùi, trong khi đoàn sứ giả triều đình nhà Minh do Lý Kỳ và La Nhữ Kính sang đến Đông Quan (Thăng Long) vào tháng 3 năm mậu thân (1428). Từ đó, nước ta độc lập và hòa bình trở lại.
Như thế là sau 20 năm đô hộ và khai thác Đại Việt, kể từ khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly (1407) đến khi Vương Thông về nước (1428), nhà Minh phải từ bỏ tham vọng xâm lược trước sự chống đối liên tục của người Đại Việt, nhất là cuộc kháng chiến bền bĩ của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo với một ban tham mưu phụ tá gồm nhiều nhân vật tài ba, và nhất là sự hưởng ứng nhiệt thành của dân chúng vì độc lập của tổ quốc.
V.- CHÍNH SÁCH TÂM CÔNG
Trong bài "Bình Ngô đại cáo" [Báo cáo rộng rãi công việc bình định giặc Ngô tức quân Minh], viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi có câu: "...ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất..." (Bản dịch của Bùi Kỷ, xin xem dưới.) "Tâm công" nghĩa là "đánh vào lòng người", ngày nay thường được gọi là chiến tranh tâm lý. Việc tuyên truyền vận động quần chúng và vận động cả đối phương để sớm chấm dứt chiến tranh là một yếu tố rất quan trọng đã góp phần không nhỏ đưa đến chiến thắng năm 1428 của cuộc kháng Minh.
Ngay từ đầu, tại Lũng Nhai ở Thanh Hoa năm 1416, những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã tuyên thệ cùng sống cùng chết tranh đấu chống quân Minh, giành độc lập cho xứ sở. Đây là một hình thức mới vào thời bấy giờ, vừa giống như hội thề Đồng Cổ do Lý Thái Tông (trị vì 1028-1054) đặt ra năm 1028 (mậu thìn) khi vừa lên ngôi,(25) lại cũng vừa giống như hình thức tuyên thệ của đảng viên các đảng phái chính trị ngày nay.
Lời thề nầy gây tác động tâm lý sâu xa, tạo sự ràng buộc tình cảm và tinh thần giữa những chiến hữu sát cánh chiến đấu bên nhau. Chẳng những Lê Lợi và ban tham mưu của ông chỉ tạo sự gắn bó trong hàng ngũ lãnh đạo, mà ngay từ đầu đã đưa ra một chính sách rất được lòng người từ mọi phía, kể cả quân nhà Minh.
Trước hết, xuất phát từ vùng rừng núi Lam Sơn, du kích quân khởi nghĩa rất cần sự giúp đỡ, che chở của các sắc dân miền núi. Nghĩa quân Lam Sơn kiếm cách vỗ về, thu phục các lãnh tụ các bộ tộc. Năm 1424, dầu lúc đầu Cầm Bành hết sức chống cự, nhưng khi ông ta đầu hàng, Lê Lợi ra lệnh: "Cầm Bành đã đầu hàng, chớ có mảy may xâm phạm, tha tội cho tất cả, không được giết một người."(26a) Nhờ thế, các tù trưởng lần lượt về theo nghĩa quân, trong đó quan trọng nhất là Cầm Quý ở châu Ngọc Ma (Nghệ An) đem theo 8.000 quân vào năm 1425.
Khi thế lực đã mạnh, quân đội càng ngày càng đông, Lê Lợi hiểu dụ các tướng rằng: "Dân chúng khổ về chính sách bạo ngược của giặc [Minh] đã lâu. Những châu huyện nào chúng ta đi tới, không được mảy may xâm phạm của dân. Nếu không phải là trâu bò thóc lúa của bọn ngụy quan [Minh], thì dẫu đói khát khốn khó đến đâu cũng không được lấy bậy."(26b)
Năm 1427, nghĩa quân dàn trận trên toàn cõi miền bắc, Lê Lợi ra Mười điều quân luật cho các tướng lãnh và quân nhân, theo đó, ngoài những mệnh lệnh thuần tuý quân sự, những ai đắm đuối nữ sắc, bao che cho quân sĩ thuộc quyền, gian ác, trộm cắp đều bị chém.(27) Riêng các quan văn võ, Lê Lợi đưa ra 3 điều răn: chớ thờ ơ, chớ lừa dối, chớ tham lam.
"Cầu hiền" là một trong những chủ trương quan trọng của Lê Lợi. Ông nhiều lần kêu gọi nhân tài ra giúp nước. Năm 1426, Lê Lợi kêu gọi "những người có tài văn chương mà chưa được nhận chức, nếu ai viết thư dụ được người thành Đông Quan, khiến họ mở cửa thành ra hàng và giảng hòa về nước thì sẽ được thăng chức vượt cấp."(28a) Tháng 4 năm đinh mùi (1427), Lê Lợi nói: "Ta không có tài dũng, trí tuệ, một mình gánh vác công việc nặng nề, sợ không làm nổi, cho nên phải nhún mình cầu hiền, dốc lòng trọng sĩ, cùng mưu việc lớn để cứu vớt sinh dân..."(28b) Sau đó, một lần khác, Lê Lợi hiểu dụ các hào kiệt: "...Ta nhún mình thành thực khuyên các hào kiệt cùng nhau dốc sức, cứu giúp muôn dân, chớ có mai danh ẩn tích, để thiên hạ phải lầm than mãi..."(28c)
Trong quân đội, Lê Lợi thưởng phạt rất công bình, trị quân rất nghiêm minh. Ông nhiều lần khen thưởng chiến công các tướng lãnh. Khi tướng Lý Triện tử trận năm 1427 tại Cảo Động, Lê Lợi phong cho phụ thân của Lý Triện làm Quan sát sứ, tước thượng phẩm, cấp 100 mẫu ruộng để sinh sống, cho con của Lý Triện là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Thượng trí tự. Khi Đinh Lễ bị quân Minh bắt năm 1427 tại My Động và bị giết, Lê Lợi phong cho em Đinh Lễ là Đinh Liệt là Nhập nội thiếu uý, tước Á hầu, và phong thưởng cho vợ Đinh Lễ.
Ngược lại, cũng trong năm 1427, Lê Lợi ra lệnh giết Tư mã Lê Lai (trùng tên với tướng Lê Lai đã hy sinh), tịch biên tài sản, vì ông Lê Lai nầy cậy có chiến công, nói năng khinh mạng.(29)
Để tỏ lòng kính phục và tri ân những anh hùng dân tộc ngày trước, Lê Lợi ra lệnh sửa lại đền thờ Đức Trần Hưng Đạo, và cho các xứ thờ cúng đền miếu các công thần.(30a)
Đối với quân địch, tức quân Minh, chính sách của Lê Lợi rất khoan hồng. Ngay trong lúc còn chiến tranh, trừ những người đã tử trận vì đánh nhau, những người bị bắt đều được đối xử tử tế. Năm 1427, Lê Lợi ra lệnh cho các xứ "nhận nuôi hơn 6 nghìn đàn ông, đàn bà ở các thành giặc đã đầu hàng, không để họ chết đói rét, lang thang."(30b)
Sau khi quân Minh thua trận, chịu lui quân, Lê Lợi đã hạ lệnh: "Cánh đường thủy, cấp 500 chiếc thuyền cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận. Còn hơn hai vạn người bị bắt hoặc đầu hàng, và 2 vạn con ngựa, thì do Mã Anh lãnh. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về. Phương Chính vừa xúc động, vừa hổ thẹn đến rơi nước mắt. Ngày 17, Vương Thông nhà Minh dẫn quân bộ đi sau. Thông cùng vua [chỉ Lê Lợi] nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua [chỉ Lê Lợi] sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ, cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu..."(30c)
Nói tóm lại, cuộc kháng chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418-1428) của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi và những anh hùng Lũng Nhai khởi xướng và lãnh đạo, đã thành công mỹ mãn, chẳng những nhờ khả năng tổ chức, tài thao lược quân sự của ban lãnh đạo, mà còn nhờ chính sách "tâm công" hợp với lòng người, lôi cuốn nhân tâm, lòng khao khát tự do độc lập của quần chúng, dựa căn bản trên những lời mà Nguyễn Trãi đã viết trong bài "Bình Ngô đại cáo": "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo".
CHÚ THÍCH:
1. Lam Sơn: Lam Sơn nguyên tên là núi Khả Lam (Khả Lam Sơn), còn gọi là núi Chàm vì trên núi có nhiều cây chàm màu lam, nên mới có tên đó. Núi nầy cao 62m., ở huyện Lôi Dương, nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 60 cây số. Núi nầy còn có tên là Du Sơn. (Ngày trước Thanh Hóa được gọi là Thanh Hoa. Vì thân mẫu của vua Thiệu Trị (trị vì 1841-1847) tên là Hồ Thị Hoa, nên huý kỵ chữ "Hoa". Từ đó, những danh từ có chữ "Hoa" đều phải đổi, vì vậy Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa.)
2. * Ý kiến của Hoàng Phạm Trân, bút hiệu là Nhượng Tống và Mạc Bảo Thần, trong khi dịch Đại Việt sử ký toàn thư, ngoại kỷ, của Ngô Sĩ Liên và các sử thần đời Lê. Bản dịch của Nhượng Tống được in tại Hà Nội năm 1944, Nxb. Đại Nam, Glendale, California, tái bản, không đề năm, tt. 51-53.
* Ngoài ra cần chú ý: Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tự xưng là Lam Sơn Động Chủ; Lê Thái Tông là Quế Lâm Động Chủ; Lê Thánh Tông là Thiên Nam Động Chủ; Lê Hiến Tông là Thượng Dương Động Chủ; Lê Uy Mục là Quỳnh Đô Động Chủ; Lê Tương Dực là Nhân Hải Động Chủ. (Lê Nhân Tông lên làm vua lúc còn trẻ và bị giết sớm nên chưa lấy tên hiệu động chủ). Động là một đơn vị hành chánh của các sắc tộc miền núi là động chủ là chức vụ lãnh đạo có tính cách thế tập của một động. (Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, Phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, quyển A, Viet Publisher, [không đề nơi xuất bản], 1989, tr. 76.)
3. Toàn thư, bd. tập 2, tt. 239-240.
4. Lũng Nhai: vùng núi thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, Thanh Hoa. (Xin xem bản dịch "Lời thề Lũng Nhai" của Hoàng Xuân Hãn vào cuối bài.)
5. Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai (1380-1442), sinh tại Thăng Long, con của ông Nguyễn Ứng Long và bà Trần Thị Thái. Bà Thái là con của quan Tư đồ nhà Trần là Trần Nguyên Đán (1325-1390). Tổ tiên họ Nguyễn nầy nguyên quán ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, Hải Dương (tức Phượng Nhãn, Chí Linh, Hải Dương), sau dời về làng Ngọc Ổi (tức làng Nhị Khê), huyện Thượng Phúc (Thường Tín), Hà Đông. Năm 1407 (đinh hợi), nhà Hồ thất bại, toàn bộ gia đình Hồ Quý Ly đều bị bắt. Quân Minh bắt luôn nhiều vị quan của triều đình nhà Hồ trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Việc Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh đưa về Trung Hoa cùng gia đình Hồ Quý Ly chứng tỏ ông giữ một vai trò rất quan trọng trong triều đình nhà Hồ. Tương truyền rằng Nguyễn Trãi theo tiễn cha lên tận ải Nam Quan (xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, Lạng Sơn). Một câu hỏi đặt ra là không lẽ quân Minh để cho Nguyễn Trãi dễ dàng theo cha mà không bắt Nguyễn Trãi? Nhiều sách giải thích khác nhau về thời gian sau khi nhà Hồ thất bại và trước khi ông gặp Lê Lợi. Có tài liệu viết Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt, Mộc Thạnh muốn giết, nhưng Hoàng Phúc lại tha để thu phục ông. Có sách nói ông bị quân Minh giam lỏng; lại cũng có tài liệu cho rằng Nguyễn Trãi theo ông nội trốn về Côn Sơn; lại có chỗ nói Nguyễn Trãi theo cha qua Trung Hoa. Điều chắc chắn là dầu thế nào Nguyễn Trãi không bị quân Minh giam giữ chặt chẽ, và sống không nhất định chỗ nào. Nguyễn Trãi cũng không tham gia hai cuộc khởi nghĩa của các vua Giản Định Đế (Trần Quỹ) năm 1407 (đinh hợi) và Trùng Quang Đế (Trần Quý Khoách) năm 1409 (kỷ sửu) (được sắp là nhà Hậu Trần). Phải chăng hai vị vua nầy cho rằng gia đình ông theo nhà Hồ, chống nhà Trần nên không dùng ông? Hoặc hai vị vua nầy nghi ngờ Nguyễn Trãi vì Nguyễn Trãi gọi Trần Thúc Dao (con của Trần Nguyên Đán) là cậu ruột, mà Dao lại hợp tác với quân Minh? Hoặc chính Nguyễn Trãi nghĩ rằng lúc đó họ Trần chẳng có thể làm được chuyện gì nên không theo? Trong cuộc hội thề tại Lũng Nhai năm 1416, có mặt Nguyễn Trãi. Các sách cho rằng Nguyễn Trãi đã viết "Bình Ngô sách" (Sách lược bình định giặc Ngô tức giặc Minh), nay thất truyền. Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi việc hành chánh và giấy tờ liên lạc trong nội bộ cũng như ngoại giao với quân Minh. Sau khi thành công, Nguyễn Trãi làm quan đầu triều, nhưng về sau bị thất sủng. Nguyễn Trãi về trí sĩ ở Côn Sơn (Hải Dương) khoảng năm 1439. Năm 1442, Lê Thái Tông (trị vì 1433-1442) đi dự duyệt binh ở Chí Linh (Hải Dương), ghé thăm Nguyễn Trãi, rồi về triều cùng với người vợ lẻ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ. Trên đường về, nhà vua từ trần bất ngờ. Triều đình cho rằng bà Lộ âm mưu giết vua; Nguyễn Trãi bị liên lụy và bị tru di tam tộc. Năm 1464, Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) cho xét lại vụ án Nguyễn Trãi và minh oan cho ông. Nhà vua còn ra lệnh tìm kiếm và tập hợp trở lại những thơ văn, di cảo của Nguyễn Trãi.
6. Toàn thư, bd. tập 2, tt. 243-245.
7. Bài nầy viết bằng chữ Nho, do Hoàng Xuân Hãn sưu tầm tại Thanh Hóa năm 1943 và dịch ra quốc ngữ. Hoàng Xuân Hãn đăng trên tập san Sử Địa, xuất bản tại Sài Gòn năm 1966. Bài nầy được đăng lại trong sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn [Hoàng Xuân Hãn toàn tập], tập 2, do Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền sưu tập và biên soạn, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr. 637.
8. Toàn thư, bd. tập 2, tt. 239-240.
9. Ngay sau thắng lợi đầu tiên vào giữa tháng giêng năm mậu tuất (1418), Lê Lợi bị một người tên Ái (không biết họ) phản bội, dẫn quân Minh đến đánh tập hậu. Lê Lợi phải rút lên vùng núi sâu. (Toàn thư, bd. tập 2, tr. 241.)
10. * Bà vợ nầy của Lê Lợi tên là Phạm Thị Nghiêu. Sau năm 1428, bà được thả về. Bà không phải là mẹ ruột của Lê Thái Tông. Mẹ ruột của Lê Thái Tông là Phạm Thị Ngọc Trần, qua đời trong thời gian kháng Minh. Khi Lê Thái Tổ từ trần (1433), bà Phạm Thị Nghiêu được gởi vào Thanh Hoa, ở hầu Vĩnh Lăng (lăng Thái Tổ). Bà Nghiêu oán hận, tỏ thái độ phản đối, bị bắt phải tự tử năm tân dậu (1441). (Toàn thư, bd. tập 2, tr. 351.)
* Người con gái của Lê Lợi bị Mã Kỳ bắt nuôi, đem về Trung Hoa, tiến làm cung tỳ (tỳ nữ trong cung). Khi Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428, ông cử sứ giả sang xin về, triều đình nhà Minh trả lời là đã chết vì bệnh đậu mùa. (Toàn thư, bd. tập 2, tr. 297.)
11. Cương mục, bd. tập 1, tr. 763.
12. Trong Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi soạn sau khi kháng chiến thành công, đã viết về sự hy sinh của Lê Lai như sau: "Bấy giờ quân ta mới thắng nhỏ mà thế giặc lại đang lớn mạnh, vua liền vời các tướng lại nói rằng: "Ai có thể mặc áo hoàng bào thay ta đem năm trăm quân và hai thớt voi đi đánh thành Tây đô, thấy giặc ra đánh thì tự xưng "ta là chúa Lam Sơn" để cho giặc bắt được, cho ta có thể ẩn náu nghỉ binh, thu nhặt binh sĩ, mưu cử sự về sau?" Các tướng đều không dám nhận lời. Chỉ có Lê Lai nói: "Thần nguyện đổi lấy áo bào. Ngày sau bệ hạ thành đế nghiệp, có được thiên hạ, nhớ đến công thần mà cho con cháu muôn đời cuả thần được chịu ơn nước. Đó là điều thần mong ước." Vua vái Trời mà khấn rằng: "Lê Lai có công đổi áo, sau nầy trẫm cùng con cháu trẫm và các tướng tá công thần cùng con cháu họ, nếu không nhớ đến công ấy, thì xin điện cỏ nầy hóa thành rừng núi, ấn báu hóa thành cục đồng, gươm thần hóa thành dao thường." Vua khấn xong, Lê Lai liền đem quân đến cổng trại giặc khiêu chiến. Giặc cậy binh mạnh xông ra đánh. Lê Lai cưỡi ngựa phi vào trận giặc, nói rằng: "Ta là chúa Lam Sơn đây!" Giặc liền vây và bắt trói đem vào trong thành xử bằng cực hình khác hẳn với các hình phạt thường dùng." (Lam Sơn thực lục, in trong sách Nguyễn Trãi toàn tập, in lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung, Hà Nội: bản dịch của Nxb. Khoa học Xã hội, 1976, tt. 50-51.)
13. * Tân Bình: Năm 1068 (mậu thân), quân Chiêm Thành tấn công biên giới phía nam. Nam 1069 (kỷ dậu), Lý Thánh Tông cầm quân đánh trả, tiến chiếm kinh đô Đồ Bàn (thuộc Bình Định ngày nay), bắt vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman III) đem về giam ở Thăng Long. Chế Củ xin cắt đất ba châu phía bắc Chiêm Thành lúc đó là Bố Chính, Địa Lý, và Ma Linh để đổi lấy tự do. Nhà Lý đổi châu Địa Lý thành Lâm Bình, nhà Trần đổi thành Tân Bình. Ngày nay vùng đất nầy thuộc tỉnh Quảng Bình.
* Thuận Hóa: Khi cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Simhavarman IV, trị vì 1287-1307) đã tặng hai châu Ô và Lý làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314) đã đổi châu Ô thành Thuận Châu (nam Quảng Trị ngày nay), châu Lý thành Hóa Châu (Thừa Thiên ngày nay). Hai châu nầy được gọi chung là miền Thuận Hóa.
14. Bốn đạo đó là: Tây đạo gồm Tam Giang (khu vực gặp gỡ 3 dòng sông: Lô, Thao và Đa), Hưng Hóa, Tuyên Quang và Gia Hưng (thuộc một phần Hưng Hóa, nhà Lý gọi là Lâm Tây, nhà Trần gọi là Đà Giang, nhà Lê gọi là Gia Hưng); Đông đạo gồm Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách thượng, Nam Sách hạ (cả 4 đều thuộc Hải Dương ngày nay)ĩ, An Châu (vùng Quảng Yên ngày nay); Bắc đạo gồm Bắc Giang, Thái Nguyên; Nam đạo gồm Khoái Châu (vùng Hưng Yên ngày nay), Lý Nhân (còn gọi là Lỵ Nhân, Lợi Nhân, thuộc vùng Hà Nội ngày nay), Tân Hưng (trước có tên Long Hưng, nơi có tổ mộ nhà Nhà Trần sau thuộc Hưng Yên, rồi thuộc Thái Bình), Kiến Xương (nay thuộc Nam Định), Thiên Trường (trước có tên là Tức Mặc, nay thuộc Nam Định).
15. Những thư từ qua lại nầy về sau được gom lại thành Quân trung từ mệnh tập (Tập thư từ mệnh lệnh ở trong quân).
16. Cương mục, bd. tập 1, tr. 798.
17. Toàn thư, bd. tập 2, tr. 261.
18. Vào tháng 2 năm kỷ sửu (1289), triều đình nhà Trần trả lại các tướng lãnh và tù binh Mông Cổ bị bắt khi xâm lăng Đại Việt, trở về Trung Hoa. Trên đường về, vua Trần Nhân Tông (trị vì 1279-1293) cho người bơi lặn giỏi, sung làm phu thuyền, đang đêm đục thuyền Ô Mã Nhi cho đắm khiến Ô Mã Nhi bị chết đuối. (Toàn thư, bd. tập 2, tr. 64.)
19. Sông Lô: Chữ "sông Lô" để chỉ hai sông khác nhau. Thời nhà Lê trở về trước, khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long gọi là sông Lô. Ngày nay, sông Lô là danh xưng để chỉ một phụ lưu ở tả ngạn sông Hồng. (Sông nầy phát nguyên từ Vân Nam (Trung Hoa), chảy vào Việt Nam, qua Việt Trì trước khi đổ vào sông Hồng, dài 457 km trong đó 276 km trên đất Việt.) Vì vậy, Toàn thư viết Lê Lợi lập dinh trên sông Lô (bd. tập 2, tr. 264), còn Cương mục viết Lê Lợi lập dinh trên sông Hồng (Cương mục, bản dịch, tr. 803.) Theo Bắc Ninh tỉnh chí [Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh], dinh Bồ Đề nằm ở thôn Phú Hựu, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh, ngày nay thuộc xã Phú Viên, huyên Gia Lâm, Hà Nội. [Chú thích từ Bắc Ninh tỉnh chí của những dịch giả Toàn thư, bd. tập 2, tr. 264.]
20. Lý Triện và Đỗ Bí sau được đổi quốc tính là Lê Triện và Lê Bí. Riêng Đỗ Bí được quân Minh trả lại cho nghĩa quân khi quân Minh rút lui về nước.
21. Toàn thư, bd. tập 2, tt. 279-280.
22. Khi chép việc nầy, Toàn thư chỉ nói tư đồ Tư Tề, mà không cho biết lai lịch. Sau đó, Toàn thư chép rằng vào năm 1429, Lê Thái Tổ phong cho con trai là Hữu tướng quốc Khai Quận Công Tư Tề làm Quốc Vương, cùng trông coi việc nước. Về sau, Tư Tề bị giáng chức năm 1433 nên không được kế vị Lê Thái Tổ.
23. Tạ Ngọc Liên, Quan hệ giữa Việt Nam & Trung Quốc: thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI, Nxb. Khoa học Xã hội Hà Nội, 1995, tt, 27-28.
24. Phan Khoang, Trung Quốc sử cương, Sài Gòn, 1958, California: Nxb. Đại Nam, Glendale, tái bản không đề năm, tt. 237-238.
25. Hội thề Đồng Cổ: Năm 1028 Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028) từ trần, để ngôi cho con trai trưởng là Lý Thái Tông (trị vì 1028-1054). Lý Thái Tông bị các em nổi lên tranh quyền. Sau khi dẹp yên, Lý Thái Tông đặt lệ hằng năm, tất cả các hoàng thân và các quan phải hội họp ở đền Đồng Cổ (làng Yên Thái, Hà Nội), làm lễ đọc lời thề đại ý như sau: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin quỷ thần làm tội". (Toàn thư, bd. tập 1, tr. 251.) Viên quan nào trốn không đến hội thề, bị phạt đánh 50 trượng. Lễ hội thề hằng năm nầy gọi là hội thề Đồng Cổ được các triều đại sau giữ mãi cho đến thế kỷ 17.
26. Toàn thư, bản dịch tập 2, tt. 252 (26a); tr. 254 (26b).
27. Kẻ nào phạm phải một trong mười điều dưới đây đều bị chém:
1) Làm huyên náo trong quân.
2) Gây kinh động hão,bịa điều họa phúc làm giao động lòng quân.
3) Khi ra trận, nghe tiếng trống, thấy cờ hiệu, mà giả cách không nghe, không thấy, dùng dằng không tiến.
4) Khi ra trận, trông thấy cờ dừng quân, nghe thanh la dừng quân, mà không dừng lại.
5) Nghe tiếng chiêng lui quân mà cưỡng lại không lui.
6) Canh phòng túc trực không siêng, hoặc ngủ say bỏ canh, bỏ hàng ngũ ngầm trốn về.
7) Đắm đuối nữ sắc, lén lút thả riêng cho người họ nhà vợ không làm quân dịch.
8) Thả quân lính để lấy tiền và che giấu không biên vào sổ quân.
9) Theo thói ưa ghét riêng mà đảo lộn công tội của người.
10) Bất hòa với mọi người, gian ác, trộm cắp. (Toàn thư, bd., tập 2, tr. 271.)
28. Toàn thư, bd. tập 2, sđd. tr. 261 (28a); tr. 268 (28b); 270 (28c).
29. Toàn thư, bd. tập 2, sđd. tr . 264. Việc nầy khiến nhiều người hiểu lầm rằng Lê Lợi đã giết Lê Lai, và không có chuyện Lê Lai hy sinh cho Lê Lợi vào năm 1418. Sự thật, sách Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi soạn sau khi chiến thắng quân Minh, đã ghi lại sự hy sinh của Lê Lai, đồng thời bản văn ghi lời thề của Lê Lợi nguyện nhớ ơn Lê Lai cũng như đưa Lê Lai về chôn ở Lam Sơn chứng tỏ việc Lê Lai hy sinh cho Lê Lợi là có thật. Cần chú ý là vào năm 1672 (nhâm tý), dưới triều vua Lê Gia Tông (trị vì 1672-1675), khi xét giảm bớt lộc điền cấp cho các công thần, triều đình lúc đó cho rằng Lê Lai có công lớn, nên vẫn giữ nguyên ruộng tế tự đã cấp từ trước cho Lê Lai. (Toàn thư, bd. tập 3, tr. 288. Cương mục, bd. tập 2, sđd. tr. 328.) Theo Lê Quý Đôn trong Việt Nam thông sử, Lê Lai có 3 người con trai: Lê Lư, Lê Lộ và Lê Lâm. Lê Lư tử trận trong trận vây thành Nghệ An năm 1425, Lê Lộ làm thái bảo, tử trận năm 1424. Lê Lâm, sau khi kháng Minh thành công năm 1428, được sắp đứng thứ ba trong hàng công thần. Năm 1430, ông cầm quân đi đánh Ai Lao (Lào) bị tử trận. Con của Lê Lâm, tức cháu nội Lê Lai, là Lê Niệm là một trong những đại công thần thời Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497). (Lê Quý Đôn, sđd. Hà Nội, bản dịch Nxb Khoa học Xã hội, 1978, tt. 157-159.) Nếu Lê Lai phạm lỗi và bị Lê Lợi giết năm 1427 thì chắc chắn con cháu ông không được trọng dụng như vậy và ruộng đất dùng để tế tự. Còn vị tư mã Lê Lai bị giết năm 1427 có thể trùng tên Lê Lai, hoặc có thể do bản in ngày xưa khắc sai tên viên tư mã, nên xảy ra việc trùng tên mà thôi.
29. Toàn thư, bd. tập 2, sđd. tr. 263 (30a); tr. 271(30b); tt. 281-282 (30c).
30. Nguyễn Trãi, "Bình Ngô đại cáo", bản dịch của Bùi Kỷ.
***
Muốn có tác phẩm nói trên, xin liên lạc với tác giả:
Tran Gia Phung